Giới thiệu về các cặp tiền tệ trong forex

Không giống như chứng khoán, bạn chỉ cần mua cổ phiếu thông qua giá trị một đồng tiền như mua cổ phiếu Apple bằng USD, mua cố phiếu Vinamilk bằng VND,…

Trên thị trường ngoại hối, bạn chỉ có thể kiếm tiền thông qua mua tiền tệ của một quốc gia này và đồng thời bán ra tiền tệ của một quốc gia khác. Và tiềm kiếm lợi nhuận dựa trên sự thay đổi tỷ giá giữa cặp tiền tệ đó.

 

Base currency vs quote/counter currency

 

Base currency (đồng yết giá), là đồng tiền đứng trước (bên trái) trong một cặp tỷ giá tiền tệ.

Quote / counter currency (đồng định giá), là đồng tiền đứng sau (bên phải) trong một cặp tỷ giá tiền tệ.

Một cặp tỷ giá sẽ thể hiện giá trị của đồng yết giá so với đồng tiền định giá còn lại.

Mỗi đồng tiền sẽ có 3 ký tự theo chuẩn ISO 4217.

Với 2 ký tự đầu đại diện cho quốc gia, khu vực. Ký tự thứ 3 là tên gọi của đồng tiền.

Ví dụ:

  • EURO = EUR
  • US dollar = USD
  • Japanese Yen = JPY
  • Australian dollar = AUD
  • euro vs us dollar = EUR / USD

các cặp tiền tệ

Ở ví dụ trên, EUR là đồng tiền yết giá.

USD là đồng tiền định giá.

EUR/USD = 1.4000, điều này có nghĩa là 1 EUR sẽ đổi được 1.4000 USD.

 

Các cặp tiền chính, cặp tiền chéo và cặp tiền ngoại loại

 

Các cặp tiền chính (major pairs): là những cặp tiền có chứa USD. Ví dụ như: EURUSD, GBPUSD, USDCHF, USDJPY, USDCAD, AUDUSD, NZDUSD

Được gọi là cặp tiền chính vì chúng có nhiều giao thương trên thế giới, có độ thanh khoản cao. Và do đó, chi phí giao dịch (spread) cũng thấp.

Các cặp tiền chéo (minor pairs): là những cặp tiền trong nhóm G10 nhưng không chứa USD. Ví dụ như: GBPAUD, GBPJPY, EURJPY, NZDCHF,…

Các cặp tiền ngoại lai (exotic pairs): là những cặp tiền liên kết gồm 1 đồng tiền chính và 1 đồng tiền của quốc gia kinh tế mới nổi. Ví dụ như: USDHKD, USDSGD, USDMXN,…

Đây là những cặp tiền ít được giao dịch phổ biến, tính thanh khoản thấp. Do đó chi phí giao dịch (spread) cũng cao hơn và không ổn định.

 

Đọc thêm: Tính thanh khoản là gì?

 

Spread, ask/bid price

 

Spread là sự chênh lệch giữa giá mua (bid price) và giá bán (ask price).

Và khoảng chênh lệch này được gọi là phí giao dịch. Hay nói cách khác, đó là doanh thu chính của các nhà môi giới.

Do đó, mỗi sàn giao dịch, mỗi nhà môi giới sẽ có sự cung cấp giá khác nhau dựa trên độ thanh khoản, dựa trên phí giao dịch mà cung cấp.

Cặp tiền tệ nào có tính thanh khoản càng cao thì spread càng nhỏ.

Ở phần trên chúng ta đã nói về các cặp tiền chính và các cặp tiền chéo là có tính thanh khoản cao hơn cả.

Dưới đây là ví dụ về cách chúng ta quan sát giá bid, giá ask, và spread của cặp tiền EUR/USD trên phần mềm giao dịch Metatrader.

Giá bid = 1.36298

Giá ask = 1.36301

spread = 0.00003 (0.3 pips)

 

Bid Ask Spread là gì |ThinkMarkets | VN

 

PIP – đơn vị đo lường trong Forex

Không giống như chứng khoán một ngày có thể thay đổi vài %, sự chuyển động trong forex nhỏ hơn rất rất nhiều. 

Trên các phần mềm giao dịch, các cặp chính thường có 4 hoặc 5 số sau dấu phẩy.

Đa phần là có 4 số, số thứ 5 thường nhỏ hơn các số còn lại.

pip là gì

Sự thay đổi ở số thứ 4 sau dấu phẩy được gọi là PIP = Point in Percentage

Sự thay đổi ở số thứ 5 được gọi là tick (hoặc là point)

Ví dụ EURUSD ở trên, tăng từ 1.13631 lên 1.13641, tăng 1 pip

 

Đối với các cặp có JPY thì chỉ có 2 số sau dấu phẩy, số thứ 2 gọi là PIP. 

Cũng với ví dụ trên hình, tỷ giá USDJPY tăng từ 113.82 lên 113.83, tăng 1 pip.

 

Swap & Carry

 

Swap còn được gọi là phí qua đêm. 

Là mức chênh lệch lãi suất đồng tiền giữa 2 quốc gia.

Lãi suất này do Ngân hàng Trung ương của mỗi quốc gia thiết lập dựa trên các chính sách kinh tế của quốc gia đó.

Swap được tính vào cuối ngày giao dịch 5pm EST (for NY session).

Bất kì vị trí nào được thực hiện trước đó và còn giữ sau thời gian này sẽ tính là qua đêm. Phí này cũng tùy thuộc vào mỗi brokers nên không có cố định.

Tùy thuộc vào cặp tiền nào bạn giao dịch, phụ thuộc vào đồng tiền bạn đang mua hay đang bán sẽ có swap dương hay âm.

Chính vì thế khái niệm carry trade (giao dịch dựa trên sự chênh lệch lãi suất) ra đời. 

Các carry traders sẽ mua vào đồng tiền có lãi suất cao và bán ra (đi vay) đồng tiền có lãi suất thấp hơn trong cùng một thời điểm. Để nhận được sự chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền đó.

swap và carry trade

 

Ở ví dụ trên, nếu bạn nắm giữ USD và vay đồng tiền CHF, tức là bạn đang BUY USDCHF. Thì cữ mỗi đêm, bạn nhận được 2.75% phí swap. 

Ngược lại nếu bạn nắm giữ CHF và vay bằng USD, tức là bạn đang SELL USDCHF. Thì cứ mỗi đêm, bạn bị trừ 2.75% phí swap.

Tuy nhiên, để tránh hiểu nhầm, ở đây tôi chỉ đề cập đến khái niệm.

Còn trong thực tế giao dịch, nó không dễ dàng như vậy. Trong phạm vi bài viết, tôi cũng không đi sâu, chi tiết vào hoạt động giao dịch này.

 

Bình luận

Vui lòng nhập bình luận
Vui lòng nhập tên của bạn